Thiết kế và quản lý lược đồ XML đáp ứng khả năng tương tác dữ liệu

Ngày đăng: 08/10/2019 Lượt xem: 479

Lời mở đầu

Các dịch vụ công một cửa và các hệ thống một cửa quốc gia là mục tiêu chính trong sáng kiến phát triển chính phủ điện tử. Mặc dù đã xuất hiện nhiều tiêu chuẩn phần mềm như dịch vụ web và Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng cho giao dịch điện tử ebXML (Electronic Business using eXtensible Markup Language) để giải quyết khả năng tương tác giữa các nền tảng kỹ thuật khác nhau, nhưng hiện nay, các hệ thống thông tin của các cơ quan chính phủ khác nhau thường độc lập và không đồng nhất, điều này dẫn đến việc yêu cầu thiết lập một khung tương tác để tích hợp các hệ thống này với nhau. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng khả năng tương tác kỹ thuật và dữ liệu giữa các hệ thống?

Khả năng tương tác dữ liệu liên quan đến cách các bên đồng ý trao đổi thông tin, xác định, định nghĩa và trình bày thông tin đó. Bài viết này sẽ giới thiệu cách thức thiết kế và quản lý lược đồ XML được cung cấp bởi Hướng dẫn quản lý và thiết kế lược đồ XML để phát triển các giao diện và các tiêu chuẩn dữ liệu đáp ứng khả năng tương tác dữ liệu cho các hệ thống thông tin. 

1. Giới thiệu sự ra đời của Khung tương tác

Năm 2003, Bộ Dịch vụ công nghệ thông tin của Hồng Kông, bây giờ được gọi là Văn phòng Giám đốc thông tin chính phủ (Office of Government Chief Information Officer - OGCIO), đã ban hành Khung tương tác (Interoperability Framework - IF) cho Chính phủ điện tử (OGCIO 2008) để đáp ứng mục tiêu cung cấp các dịch vụ một cửa toàn diện.

IF duy trì tập hợp các thông số kỹ thuật và dữ liệu để hỗ trợ Các cơ quan chính quyền và các hiệp hội (B/Ds - Bureaux and Departments) trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống thông tin, tham gia thực hiện các dịch vụ công. XML sẽ là công nghệ then chốt để xác định giao diện trao đổi dữ liệu. IF cho phép các hệ thống máy tính phát triển trên nền tảng phần cứng và phần mềm không đồng nhất tương tác với nhau.

Nhóm điều phối khung tương tác (Interoperability Framework Co-ordination Group - IFCG) được thành lập, với sự tham gia của các chuyên gia từ chính phủ và các ngành công nghiệp để giám sát sự phát triển của IF. IFCG phối hợp với các nhóm chuyên gia khác thông qua B/Ds phát triển các tiêu chuẩn tương thích cụ thể cho các lĩnh vực nghiệp vụ tương ứng của họ. Đây là một chiến lược lâu dài và hiện nay vẫn đang diễn ra. IFCG thường xuyên đánh giá IF trong khoảng từ 6-12 tháng để đáp ứng các yêu cầu nghiệp vụ mới và đáp ứng sự phát triển của công nghệ hiện tại.

Khi triển khai các hệ thống mới cần trao đổi dữ liệu với các hệ thống khác thì cần tuân thủ tất cả các yêu cầu chính sách của B/Ds áp dụng IF. Hơn nữa, các nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin và các nhà tích hợp hệ thống cũng có nghĩa vụ đảm bảo các giải pháp của họ mà cung cấp cho chính phủ phải tuân thủ các yêu cầu của IF.

2. Các khía cạnh của khả năng tương tác

Khung tương tác IF giải quyết 3 khía cạnh của khả năng tương tác, cụ thể là:

- Khả năng tương tác kỹ thuật;

- Khả năng tương thích dữ liệu và,

- Khả năng tương thích quy trình.

Hồng Kông là nước đầu tiên đưa ra Hướng dẫn quản lý và thiết kế lược đồ XML đã mô tả các các khía cạnh này như sau:

- Khả năng tương tác kỹ thuật: là việc thỏa thuận về giao thức truyền thông và định dạng thông điệp dữ liệu sẽ được sử dụng khi gửi thông tin đi. Ví dụ đơn đặt hàng sẽ được mã hóa bằng ngôn ngữ XML và được gửi qua giao thức truyền tải siêu văn bản HTTP (HyperText Transfer Protocol).

- Khả năng tương thích dữ liệu: là việc thỏa thuận thông tin được truyền từ bên này sang bên khác sau đó sẽ được xác định và trình bày thông tin đó. Ví dụ “ngày chuyển giao” đơn hàng phải được chỉ định và xác định thông qua tiêu chuẩn ISO 8601.

  - Khả năng tương thích quy trình: là việc thỏa thuận về cách mà các hoạt động nghiệp vụ của các bên liên quan ảnh hưởng lẫn nhau (tức là những quy tắc nghiệp vụ). Ví dụ: khi người bán nhận được đơn đặt hàng từ người mua, người bán phải chấp nhận hoặc từ chối đơn đặt hàng đó trong một khoảng thời gian được chỉ định.

Để giải quyết khía cạnh tương tác, IF duy trì 2 bộ tài liệu, bao gồm khung tương tác và nền tảng phân tích dựa trên khuyến nghị của IF, đề xuất một tập hợp các đặc tả kỹ thuật để thực hiện các ứng dụng trong các lĩnh vực tương tác khác nhau.

Ví dụ, trong miền tích hợp ứng dụng, các tiêu chuẩn dịch vụ Web như :

- SOAP v1.1 (Simple Object Access Protocol - Giao thức truy cập đối tượng đơn giản);

- WSDL v1.1 (Web Sevice Description Language - Ngôn ngữ mô tả dịch vụ web)

- UDDI v2 (Universal Description, Discovery, and Intergration - Mô tả, khám phá và thích hợp chung) được khuyến nghị để tích hợp các chức năng đơn giản trong môi trường mở trong khi dịch vụ thư ebMS v2 (E-Business Management Solution - Giải pháp quản lý doanh nghiệp điện tử) được khuyến nghị để trao đổi tin nhắn giữa các hệ thống ứng dụng trong một môi trường mở cho các tài liệu nghiệp vụ theo hướng cộng tác.

Điều này có nghĩa là khi một dự án mới được công nhận để phù hợp với lĩnh vực tương thích cụ thể, thì B/D chịu trách nhiệm về dự án và các nhà thầu công nghệ thông tin yêu cầu áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật được đề xuất trong việc triển khai hệ thống.

3. Hướng dẫn quản lý và thiết kế lược đồ XML

Trung tâm phát triển Hạ tầng thương mại điện tử CECID (The Center for E-Commerce Infrastructure Development ) của Đại học Hồng Kông được ủy nhiệm phát triển Hướng dẫn quản lý và thiết kế lược đồ XML để giúp các cơ quan B/Ds và các nhà thầu công nghệ thông tin xác định và áp dụng các tiêu chuẩn dữ liệu. Hướng dẫn này cung cấp những cách giải quyết dữ liệu và khả năng tương tác nghiệp vụ của các dịch vụ liên kết chính phủ G2G (Government to Government - Dịch vụ giữa chính phủ với chính phủ) và G2B (Government to Business - Dịch vụ giữa chính phủ với doanh nghiệp). Mục tiêu của hướng dẫn là đưa ra:

- Một phương pháp luận để các nhà phân tích nghiệp vụ xác định các định nghĩa và biểu diễn thông tin một cách nhất quán và có cấu trúc, chẳng hạn như các mô hình thông tin tái sử dụng;

- Một cách tiếp cận để các lập trình viên chuyển đổi các mô hình thông tin của phần tử dữ liệu thành mã định nghĩa lược đồ (W3C XML Schema Definition - XSD) (W3C 2004);

(XSD: XML Schema Definition là định nghĩa lược đồ dữ liệu sử dụng ngôn ngữ đánh dấu mở rộng XML của tổ chức mạng lưới toàn cầu W3C)

  - Các hướng dẫn để liên kết các định nghĩa và biểu diễn các phần tử dữ liệu có khả năng tái sử dụng các dịch vụ kết hợp, qua đó chuẩn hóa mã lược đồ XML cho các phần tử dữ liệu này, và

- Các hướng dẫn để các nhóm dự án áp dụng các yếu tố dữ liệu liên kết phù hợp và chuẩn hóa mã XSD; và cũng góp phần liên kết các yếu tố dữ liệu tái sử dụng.

 a. Hướng dẫn thiết kế lược đồ XML

Hướng dẫn thiết kế lược đồ XML (gọi tắt là Hướng dẫn thiết kế) cung cấp một phương pháp thiết kế lược đồ XML toàn diện, bao gồm 5 phần cốt lõi là:

- Quy trình thiết kế;

- Phương pháp mô hình hóa quy trình nghiệp vụ;

- Phương pháp mô hình hóa thông tin nghiệp vụ;

- Phát triển định nghĩa lược đồ XML.

Không giống như các phương pháp khác, Hướng dẫn thiết kế này cung cấp cho các nhà phân tích và các nhà phát triển phương pháp thiết kế lược đồ dữ liệu để tích hợp dữ liệu từ lúc bắt đầu sinh ra cho đến khi kết thúc. Nó bao gồm các kỹ thuật mô hình hóa từ việc mô hình hóa quy trình nghiệp vụ, mô hình hóa dữ liệu cho đến mã hóa XSD.

Quy trình thiết kế lược đồ XML

Quy trình thiết kế lược đồ của Hướng dẫn thiết kế này được thể hiện ở Hình 1, quy trình này hướng dẫn cho một nhóm dự án phát triển giao diện dữ liệu XML, tức là thực hiện mã hóa XSD cho hệ thống chính phủ để trao đổi dữ liệu với các hệ thống chính phủ khác hoặc doanh nghiệp khác. Quy trình này bao gồm hai loại lược đồ là: Lược đồ dự án và lược đồ chung.

- Lược đồ dự án chỉ cần đáp ứng các yêu cầu cụ thể của một dự án;

- Lược đồ chung có thể tái sử dụng các dự án của các cơ quan B/Ds khác nhau. Lược đồ chung được chuẩn hóa tập trung trong chính phủ và được chia sẻ công khai trong Trung tâm đăng ký.

Sự khác biệt giữa lược đồ dự án và lược đồ chung là lược đồ dự án thường định hướng tài liệu (ví dụ như đơn đặt hàng), vì nó được định hướng sẵn để sử dụng trao đổi dữ liệu. Còn lược đồ chung là định hướng phần tử dữ liệu, chẳng hạn như: địa chỉ, tên... và lược đồ chung được sử dụng như một khối xây dựng để xây dựng các lược đồ dự án.

Quy trình thiết kế lược đồ có thể được tóm tắt như sau:

- Đầu tiên nhóm dự án thu thập và phân tích các yêu cầu người dùng để xem liệu có tiêu chuẩn ngành nào phù hợp hay không. Ví dụ, Ngôn ngữ nghiệp vụ toàn cầu (Universal Business Language - OASIS 2003).

Và nhóm dự án sẽ bắt đầu thiết kế lược đồ tùy chỉnh chỉ khi không có tiêu chuẩn ngành nào phù hợp. Sau đó, các nhà phân tích sẽ phân tích quy trình nghiệp vụ trong đó có hệ thống trao đổi dữ liệu với các hệ thống khác và xác định các tài liệu nghiệp vụ liên quan đến việc trao đổi dữ liệu. Đối với mỗi tài liệu được xác định, các nhà phân tích nghiệp vụ xây dựng mô hình thông tin của nó (là cấu trúc tài liệu và ràng buộc dữ liệu). Các mô hình dữ liệu được chuyển đổi thành mã XSD của lược đồ dự án bằng các công cụ phần mềm. Nếu nhóm dự án dự đoán một số phần tử dữ liệu trong Lược đồ dự án là đủ để tái sử dụng cho các dự án khác trong tương lai thì chúng có thể đề xuất các yếu tố dữ liệu để chuẩn hóa các lược đồ chung.

                         

 Hình 1: Quy trình thiết kế lược đồ XML

Mô hình hóa quy trình nghiệp vụ

Phương pháp mô hình hóa quy trình nghiệp vụ BPM (Business Process Modelling) có nguồn gốc từ phương pháp tiếp cận mô hình hóa quy trình nghiệp vụ ebXML của Tổ chức thúc đẩy các tiêu chuẩn thông tin có cấu trúc OASIS (Organization for the Advancement of Structured Information Standards - OASIS 2001). Quy trình nghiệp vụ được mô hình hóa như một tập hợp các cộng tác nghiệp vụ (là yếu tố chính trong giao dịch nghiệp vụ). Giao dịch nghiệp vụ là một trao đổi tài liệu trừu tượng đơn lẻ, có thể là luồng tài liệu một chiều hoặc hai chiều giữa hai bên liên quan đến sự cộng tác nghiệp vụ. Khi các dòng tài liệu giữa các bên khác nhau được xác định thì các tài liệu này sẽ được mô hình hóa trong giai đoạn tiếp theo.

Hướng dẫn thiết kế quy trình nghiệp vụ này cung cấp tập hợp các bảng cho các nhà phân tích nghiệp vụ điền các yêu cầu cộng tác nghiệp vụ và giao dịch nghiệp vụ. Ví dụ, bảng tại Hình 2 ghi lại sự cộng tác nghiệp vụ, liên quan đến yêu cầu về vai trò của người mua và vai trò phản hồi lại của người bán. Hai giao dịch nghiệp vụ cụ thể là “Yêu cầu báo giᔓTạo đơn hàng” được xác định. Các giao dịch yêu cầu báo giá liên quan đến việc trao đổi 2 tài liệu về trích dẫn yêu cầu và giá của báo giá trong giao dịch tạo đơn đặt hàng và xác nhận đơn đặt hàng. Các tài liệu này được sử dụng cho mô hình hóa thông tin nghiệp vụ, mô hình nghiệp vụ này được xác định như là một sơ đồ của hoạt động đặc tả UML.

(UML - Unified Modeling Language: là ngôn ngữ dành cho việc đặc tả, hình dung, xây dựng và làm tài liệu của các hệ thống phần mềm... UML cung cấp cho người dùng một ngôn ngữ mô hình hoá trực quan sẵn sàng và có ý nghĩa; cho phép phát triển và trao đổi những mô hình mang nhiều ý nghĩa).

Bảng hợp tác nghiệp vụ

A. Thông tin của bảng

Địa chỉ ID của bảng: BCW - Thứ tự

Địa chỉ ID của dự án: XMLGL

Liên hệ kỹ thuật:

Josia Chan / CECID

Liên hệ quản trị:

Thomas Lee / CECID

 

B. Dự án hợp tác nghiệp vụ

Tên: Nhập đơn hàng

Mô tả:

Người mua và người bán trao đổi về giá cả đơn hàng và tạo đơn đặt hàng.

Phạm vi:

Người mua yêu cầu người bán báo giá về đơn hàng để người mua đặt hàng. Nếu người mua đồng ý về giá thì người mua có thể đặt hàng cho người bán.

Điều kiện trước:

1. Người mua và người bán đã đồng ý giao dịch với nhau.

 

C. Vai trò

Tên

Mô tả

Người mua hàng

Đơn hàng được đặt

Người bán hàng

Hoàn thành đơn đặt hàng

 

D. Giao dịch kinh doanh

Tên

Mô tả

Yêu cầu báo giá

Người mua yêu cầu báo giá từ người bán

Tạo đơn hàng

Người mua đặt hàng cho người bán

 

E. Tài liệu kinh doanh

Tên

Mô tả

Yêu cầu báo giá

Người mua yêu cầu người bán gửi báo giá

Báo giá

Người bán phản hồi báo giá cho người mua

Đơn đặt hàng

Người mua yêu cầu đặt hàng từ người bán

Xác nhận đơn đặt hàng

Đơn đặt hàng được chấp nhận hoặc từ chối

                         

 Hình 2. Mẫu bảng mô hình hóa cho sự hợp tác nghiệp vụ

Mô hình hóa thông tin nghiệp vụ

  Quy trình mô hình hóa thông tin nghiệp vụ BIM (Business information modelling) là tập hợp các yêu cầu về tài liệu nghiệp vụ được xác định trong mô hình quy trình nghiệp vụ. Những yêu cầu này thường được tồn tại dưới dạng tài liệu bản giấy và tài liệu bản sao điện tử được trao đổi theo cách thủ công hoặc theo quy trình trao đổi điện tử cũ. Phương pháp mô hình hóa này được thực hiện đơn giản và mở rộng Đặc tả kỹ thuật thành phần cốt lõi ebXML (Core Components Technical Specification (CCTS) (UN/CEFACT 2003) cho phép các nhà phân tích nghiệp vụ chỉ định các tài liệu và các phần tử dữ liệu cụ thể, như là các mô hình thông tin được biểu diễn dưới đây.

  (ebXML - Electronic Business using eXtensible Markup Language: Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng cho giao dịch điện tử)

  - Tài liệu nghiệp vụ: mô hình hóa các tài liệu điện tử làm đơn vị trao đổi thông tin nghiệp vụ, thực thể thông tin nghiệp vụ tổng hợp ABIE (Aggregate Business Information Entity) được sử dụng để cung cấp tài liệu nghiệp vụ đại diện.

  - Thực thể thông tin nghiệp vụ tổng hợp ABIE: mô hình hóa một lớp đối tượng và kết hợp các thực thể nghiệp vụ thông tin cơ bản như là các thuộc tính.

  - Thực thể thông tin nghiệp vụ kết hợp - ASBIE (Association Business Information Entity), mô hình hóa một thuộc tính phức tạp trong một lớp đối tượng.

  - Thực thể thông tin nghiệp vụ cơ bản BBIE (Basic Business Information Entity), mô hình hóa một thuộc tính số ít trong một lớp đối tượng.

  Loại thành phần cốt lõi CCT (Core Component Type), mô hình hóa một kiểu dữ liệu nghiệp vụ cơ bản như là một khối xây dựng cho các mô hình trên.

  BIM cung cấp một tập hợp các loại thành phần cốt lõi (CCTs) làm kiểu dữ liệu nghiệp vụ cơ bản để xây dựng các mô hình thông tin khác. Ngoài các CCT được đề xuất trong CCTs, ví dụ: số lượng, ngày giờ, mã, số lượng, số đo..., BIM còn cung cấp các loại dữ liệu mới như: toàn bộ chất lượng, đại số Boolean (đúng hoặc sai), và dữ liệu bên ngoài. Kiểu dữ liệu bên ngoài (External) cho phép cấu trúc dữ liệu được định nghĩa bên ngoài tập hợp CCTs đã được xác định trước bởi một kiểu dữ liệu XSD bên ngoài. Các mối quan hệ của các mô hình thông tin này được biểu diễn bằng một sơ đồ lớp UML như Hình 3 dưới đây:

                         

                        Hình 3: Mô hình thông tin mẫu cho tài liệu của đơn đặt hàng

                         

                        Hình 4: Bảng BIM

BIM cung cấp một bảng mô hình hóa được chỉ ra trong Hình 4 để các nhà phân tích nghiệp vụ nhập vào các thông số kỹ thuật của mô hình thông tin. Bảng này bao gồm macros người dùng để hướng dẫn người dùng nhập các thuộc tính khác nhau theo yêu cầu của mô hình trên các hộp thoại cụ thể. BIM cũng cho phép người dùng nhập và lựa chọn các mô hình hiện có để tái sử dụng các mô hình mới được xác định. Hơn nữa, các mô hình được chỉ định trong bảng có thể được chuyển đổi thành mã XSD thông qua kịch bản chuyển đổi ngôn ngữ XML (XSLT) mà không cần sự tham gia của người lập trình.

  Phát triển định nghĩa lược đồ XML

  Hướng dẫn thiết kế cung cấp một đặc tả toàn diện để chuẩn hóa việc chuyển đổi từng mô hình thông tin thành mã XSD. Ví dụ, mỗi BBIE hoặc ABIE sẽ được chuyển đổi thành một loại mã XSD phức tạp. Các đặc điểm kỹ thuật đã được thông qua theo quy ước mã Venetian Blind XSD. Thư viện chuẩn (tức là tệp XSD) cho tập hợp các CCTs được cung cấp để đưa vào các các mã XSD được phát triển từ các mô hình thông tin, bao gồm việc biểu diễn các mô hình XSD cũng như quy ước đặt tên của các kiểu dữ liệu và các phần tử dữ liệu đã được chuẩn hóa. Việc chuyển đổi từ các mô hình thông tin sang mã XSD có thể được thực hiện tự động và bảng BIM sẽ cung cấp tập lệnh XSLT cho quy trình này.

  b. Hướng dẫn quản lý lược đồ XML

  Hướng dẫn quản lý lược đồ XML (gọi tắt là Hướng dẫn quản lý) sẽ xác định chính sách, cấu trúc của tổ chức... để quản lý các lược đồ dự án và các lược đồ chung được định nghĩa theo Hướng dẫn thiết kế.

  Hướng dẫn quản lý mô tả:

  - Các cân nhắc để quản lý các lược đồ dự án cũng như các từ vựng được kiểm soát của chúng, ví dụ như danh sách mã, không gian tên...;

  - Quy trình quản lý và cơ cấu tổ chức để phối hợp các yếu tố dữ liệu có thể tái sử dụng được đề xuất bởi các cơ quan B/D để chuẩn hóa các lược đồ chung; và

  - Các hướng dẫn để xây dựng một đăng ký dự án và đăng ký trung tâm để chia sẻ các lược đồ dự án và các lược đồ chung tương ứng.

  Mỗi lược đồ chung được liên kết với một trong ba mức độ trưởng thành và các tiêu chí để thúc đẩy lược đồ chung đến một mức cao hơn được mô tả tại Hình 5.

  Mức 0 - Đồng ý về nguyên tắc. B/Ds đã đồng ý về định nghĩa, biểu diễn và ngữ cảnh sử dụng của phần tử dữ liệu có liên quan, nhưng trong số B/Ds đó sẽ tin rằng yếu tố dữ liệu có thể áp dụng cho nghiệp vụ của chúng, phần lớn B/Ds dự đoán rằng chúng yêu cầu điều tra và phân tích các lược đồ chung sâu hơn trước khi được đưa vào áp dụng.

  Mức 1 - Được đề xuất sử dụng lại. B/Ds đồng ý về định nghĩa, biểu diễn và ngữ cảnh sử dụng của phần tử dữ liệu có liên quan nhưng trong số B/Ds đó sẽ tin rằng yếu tố dữ liệu có thể áp dụng cho nghiệp vụ của chúng, phần lớn B/Ds dự đoán rằng chúng sẵn sàng chấp nhận phần tử dữ liệu trong các dự án tương lai của chúng.

  Mức 2 - Mức độ trưởng thành để tái sử dụng. B/Ds đồng ý về định nghĩa, biểu diễn và ngữ cảnh sử dụng của phần tử dữ liệu có liên quan nhưng trong số B/Ds đó sẽ tin rằng yếu tố dữ liệu áp dụng cho nghiệp vụ của chúng, phần lớn B/Ds dự đoán rằng chúng sẵn sàng chấp nhận yếu tố dữ liệu trong các dự án tương lai của chúng. Ngoài ra, phần tử dữ liệu liên quan đã được sử dụng trong một số dự án và mô hình thông tin của phần tử dữ liệu và vẫn ổn định trong một khoảng thời gian nhất định.

Kết luận

Hướng dẫn quản lý và thiết kế lược đồ XML cung cấp một phương pháp thiết kế lược đồ XML toàn diện và cơ sở hạ tầng quản lý lược đồ cần thiết để tạo thuận lợi cho việc chuẩn hóa dữ liệu.

Hướng dẫn thiết kế lược đồ XML là một phương pháp tích hợp chung, bao gồm tất cả các bước cần thiết trong mô hình nghiệp vụ điện tử từ việc phân tích yêu cầu cho đến quy trình nghiệp vụ; và từ việc mô hình hóa thông tin cho đến mã hóa XSD. Điều này cần thiết cho các tổ chức doanh nghiệp và các chính phủ có thể dễ dàng điều chỉnh để thiết lập cơ sở hạ tầng tương thích với dữ liệu riêng của họ.

  Lược đồ XML ngoài việc là thành phần kỹ thuật được thiết kế để đáp ứng khả năng tương tác giữa các dữ liệu của chính phủ điện tử mà nó còn là thông điệp để trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống thông tin của chính phủ. Trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cấu trúc thông điệp dữ liệu công dân trao đổi với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (QCVN số 109:2017/BTTTT) thì lược đồ XML (XSD) sử dụng ngôn ngữ đánh dấu mở rộng XML để các hệ thống thông tin chuyển đổi dữ liệu trong hệ thống từ/sang dữ liệu mã hóa bằng ngôn ngữ XML và sử dụng mô tả mô hình dữ liệu trao đổi giữa các hệ thống thông tin.

4. Tài liệu tham khảo

1. XML Schema Design and Management for e-Government Data Interoperability - Thomas Lee, C.T. Hon and David Cheung

University of Hong Kong, China

Macau University of Science and Technology, China

ytlee@cecid.hku.hk

  cthon@must.edu.mo

  dcheung@cecid.hku.hk

2. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia số 109:2017/BTTTT ngày 04/4/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cấu trúc thông điệp dữ liệu công dân trao đổi với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Lê Thị Thùy Trang